Aimer, c'est vouloir être aimé (Lacan)

Vietnamese     Francais
  Nombre de visiteurs:
  Total: 00036121
  En ligne: 3
SÁNG THẾ KÝ đọc bởi một người Việt Nam (3)

Nếu Sáng Thế Ký là một vở kịch trong đó diễn viên chính là Thiên Chúa, thì phải quan niệm sân khấu của vở kịch ấy là gì ? Là thế giới, vũ trụ, sa mạc Trung Đông, hay là chính cái Tâm của chúng ta, đồng thời cũng là Tâm của Thiên Chúa ?  

Đọc phần 1     /     Đọc phần 2 

  THIÊN CHÚA, CÔNG CỤ CỦA CON NGƯỜI  

Sáng Thế Ký khởi đầu với quan điểm chủ quan tuyệt đối của Thiên Chúa, xuất phát nơi chân không. Ngài phán « sự vật hiện hữu ! » và sự vật hiện hữu. Ngài quyết định « điều này tốt » và điều ấy được coi như tốt … Rồi con người xuất hiện. Con người ăn trái của « cây phân biệt tốt xấu » để rơi vào tri thức nhị nguyên, với tốt xấu, già  trẻ, bệnh tật  khỏe mạnh, hạnh phúc đau khổ, thương ghét, vui buồn, đúng sai, v.v… Con người rời khỏi thiên đường chân như tự tại, và kéo theo …  Thiên Chúa ! Trong cõi ta bà vui khổ, con người biết làm ra sự  sống bằng tình yêu nam nữ, và cũng biết gây nên sự chết bằng giết chóc. Về phần Thiên Chúa, Ngài cũng phải tập tành làm quen với thất bại, với tính toán mưu mô, với sửa sai, sai sửa, với giận dữ, hủy diệt, tàn sát, và … ân hận. Thiên Chúa trở thành hình ảnh của con người (xin đọc phần 1 : Thế Kỷ 21 số 177 + 178).  

Ở phần tiếp theo của Sáng Thế Ký, với chuyện Abraham, Thiên Chúa đi vào Lịch Sử con người. Và bản chất của Lịch Sử hoàn toàn thay đổi. Từ một Lịch Sử tiến hóa theo chu kỳ, Lịch Sử của dân định cư, với ngày qua ngày tương tự như nhau, bán buôn buôn bán, cấy cày cày cấy, trở đi trở lại, sự xuất hiện của Thiên Chúa biến Lịch Sử thành một đường thẳng. Đó là Lịch Sử của người du mục, với mỗi ngày một chân trời mới, tương lai hoàn toàn khác biệt với hiện tại, và kỳ vọng Đất Hứa ở cuối cuộc hành trình (xin đọc phần 2 : Thế Kỷ 21 số 179).   

Khi bắt đầu chuyện Abraham, Thiên Chúa tìm đến Abraham. Đến cuối câu chuyện, Thiên Chúa và Abraham như một. Cũng có thể nói : ở đầu câu chuyện, Thiên Chúa lãnh đạo Abraham và bộ lạc của ông. Đến cuối câu chuyện, Thiên Chúa trở nên một thành viên của bộ lạc. Khi Abraham ra lệnh cho người đày tớ thân tín trở về quê cũ của ông, tìm một người vợ cho Isaac con ông, thì ông tuyên bố rằng Thiên Chúa sẽ lo liệu tất cả để sứ mạng của người đày tớ được chu toàn (24:7). Tức là Thiên Chúa cũng như người đày tớ cùng lãnh chung một sứ mạng, mỗi người một vai trò rõ rệt, được quyết định bởi Abraham. Sự việc xảy ra đúng như Abraham dự liệu : Thiên Chúa và người đày tớ đem về cho Isaac một người vợ, Rebecca, cháu của Abraham. Sự can thiệp của Thiên Chúa vào công việc của con người đã biến Thiên Chúa thành công cụ của con người. Hoặc giả ưu tư và khát vọng của con người đã bắt buộc con người phải tạo ra một Thiên Chúa luôn sẵn sàng tham gia, như một công cụ, vào mọi công chuyện của đời sống mình, từ việc dựng vợ gả chồng cho con cái, đến chuyện sanh đẻ, sức khỏe, thi cử, làm ăn v.v… ?

            Câu chuyện Isaac bắt đầu với sự can thiệp của Thiên Chúa vào việc tìm vợ cho ông này, rồi tiếp theo với sự can thiệp của Chúa để chữa bệnh hiếm muộn cho Rebecca. Một sự can thiệp hiệu quả. Với quyền phép Chúa, Rebecca cho ra đời hai trẻ song sanh : Esaü ra trước làm anh, Jacob ra sau làm em. Khổ nỗi, Rebecca lại thương Jacob hơn Esau, và muốn cho Jacob đoạt quyền thừa kế của Esau. Y hệt như nhiều bà Hoàng, bà Phi, của nhiều triều đại bên Đông Á nhà ta. Khi Isaac già yếu, muốn “truyền ngôi” cho Esau, ông gọi Esau đến và bảo Esau đi săn thú đem về nấu cho ông ăn, để sau đó ông sẽ chúc lành cho và bàn giao quyền điều khiển bộ tộc. Chúng ta đừng quên rằng quyền lực mà Isaac sẽ trao lại vượt ngoài phạm vi của một bộ lạc du mục nhiều lắm. Thật vậy, Isaac kế thừa Abraham, mà tên Abraham, được Chúa đặt, có nghĩa là “cha của muôn người". Thiên Chúa từng hứa cho  Abraham trở thành “thủy tổ của vô số quốc gia” (17:1-22), và dân tộc xuất phát từ Abraham sẽ là một dân tộc “được chúc lành (tùng phục ?) bởi mọi dân tộc trên thế giới" (18:18). Thế nhưng, quyền bá chủ thế giới sẽ không vào tay Esau : Rebecca, mẹ ông, rình nghe được câu chuyện, liền gọi Jacob đến và bảo ông này bắt hai con dê con cho bà làm thịt, rồi hóa trang làm Esau, đem cho Isaac ăn. Isaac mắt đã lòa, không nhận ra Jacob, tưởng ông  là Esau, nên ban phúc lành cho Jacob, nhân danh Thiên Chúa. Thế là Jacob, giả trang làm Esau, được nâng lên hàng tộc trưởng. Đến khi Esau đi săn về, thì sự thể đã lỡ, Jacob đã kế thừa Isaac, và đã … chuồn mất !    

THIÊN CHÚA PHI LUÂN   

            Trên đường đi trốn, vì sợ bị Esau “mần thịt”, Jacob nằm ngủ và mơ thấy một cảnh lạ : một cầu thang nối liền chỗ ông nằm đến tận trời cao, với các Thiên Thần đi lên đi xuống. Trong giấc mộng Thiên Chúa đứng gần Jacob và nói với ông : “Ta là Yahweh, Chúa của Abraham, ông nội ngươi, và Chúa của Isaac. Mảnh đất ngươi đang nằm trên đó, ta sẽ ban cho ngươi và hậu duệ ngươi. Hậu duệ ngươi sẽ đông như các hạt bụi trên mặt đất. Ngươi sẽ lan tràn về phía tây, phía đông, phía bắc và phía nam; qua ngươi và hậu duệ ngươi, tất cả các bộ tộc trên thế giới sẽ được chúc lành …” (28:13-15). Thiên Chúa lập lại những gì Ngài đã hứa cho Abraham, như một cách hợp thức hóa quyền thừa kế của Jacob. Tại sao ? Tại sao Thiên Chúa lại chấp nhận một sự bất công đến từ một âm mưu lường gạt hạ cấp, tội lỗi, trăm lần tội lỗi, vì là lường gạt chính cha mình, lợi dụng sự tật nguyền mù lòa của một cụ già đầy tin tưởng nơi vợ mình, con mình ? Chúng ta đã bàn về đạo đức của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở giai đoạn này, chưa biết đặt vấn đề đạo đức. Cái gì tốt cho Ngài là tốt. Đó là quan điểm của một nhân vật quen sống một mình trong hư vô … Thiên Chúa còn phải tập tành đời sống xã hội một thời gian nữa, mới biết đến đạo đức, luân lý, những nguyên tắc cao hơn chính mình, cao hơn quyền lợi của mình, ý thích của mình, mà mình phải tôn trọng. Nhưng, thử nghĩ lại, có thể có gì cao hơn Thiên Chúa ?  

            Câu trả lời của Jacob cũng đượm một mùi vị phi luân lý tương tự. Jacob nói (28 :20-22) : “Nếu Chúa đứng về phe tôi, và bảo vệ tôi trên bước đường lưu lạc, nếu Ngài cho tôi bánh ăn và áo mặc, nếu tôi yên lành trở về nhà cha tôi, thì Yahweh sẽ là Chúa của tôi … và những gì Ngài cho tôi, tôi sẽ hiến lại Ngài một phần mười”. Jacob là một người thực tế. Ông đòi được bảo vệ, vì thấy mình đơn thương độc mã trên đường bôn tẩu với mọi hiểm nguy. Đòi thức ăn, y phục, là những thứ ông đang lo sợ bị thiếu. Toàn là những điều cụ thể để sống còn. Tuy nhiên ông cũng không quên dụ Chúa vào một liên minh hùn hạp, để đưa ông lên địa vị Tộc Trưởng thực thụ, kế vị Isaac và Abraham sau khi những nhu cầu cấp thiết đã được đảm bảo. Phần thưởng của Thiên Chúa sẽ là : thứ nhất Jacob sẽ thừa nhận Thiên Chúa như Chúa của ông ta, và thứ nhì, Jacob sẽ hoàn lại cho Chúa một phần mười hoa lợi thu hoạch được bởi công ty “Jacob-Thiên Chúa” ! Thiên Chúa có thực sự cần đến những quyền lợi ấy không ? Phải nghĩ là có, vì Thiên Chúa mặc nhiên chấp nhận sự thương lượng của Jacob. Ngài đã rơi xuống một địa vị tương đương với con người, địa vị một người bạn sẵn sàng hùn vốn làm ăn với con người, rồi cùng nhau chia chác lợi nhuận. Đã xa rồi cái thuở vàng son nọ, khi Thiên Chúa đứng giữa chân không, dựng nên trời đất vạn vật, hữu hình và vô hình … Thật ra, Thiên Chúa đã đổi thay, hay quan niệm của con người về Thiên Chúa thay đổi ?    

TƯ DỤC TRỞ THÀNH THIÊN CHÚA   

            Có thể nói đoạn Sáng Thế Ký này tiêu biểu cho sự trỗi dậy của tư dục. Tư dục của Rebecca, rồi của Jacob. Tư dục trỗi dậy thì đạo đức, luân lý, cũng phải lùi bước. Tình vợ chồng, cha con, anh em,  không còn nữa. Tư dục trở thành Thiên Chúa. Quyền lực của nó không gì cưỡng lại nổi, và quy luật của nó đè bẹp cái lẽ phải đơn giản nhất. Sức thuyết phục của tư dục như thủy triều cuồn cuộn, lôi những trí tuệ siêu phàm nhất đến những bến bờ vô nghĩa nhất. Bạn hãy tưởng tượng Thiên Chúa chấp nhận 10 phần trăm những gì Ngài ban cho Jacob ! Còn gì vô nghĩa hơn ? Thiên Chúa ấy, là Chúa của tư dục, hay nói cách khác, là tư dục được con người phóng ra ngoài mình, làm thành Thiên Chúa, thành Phật, thành Đức Mẹ, Quan Thế Âm bồ tát, v.v…  để mà thờ cúng, cầu xin. Con người cầu xin và thương lượng với chính tư dục của mình, như Jacob thương lượng với Yahweh trong đoạn văn này. Vài bông hoa, nén nhang, cây nến, thắp trên những bàn thờ tư dục, rồi xì xụp cúng bái, đôi khi thêm chút bố thí tủn mủn, với niềm hy vọng rằng nhờ những thứ vô nghĩa ấy mà mua được Phật, Chúa, Đức Mẹ … mua được vé phi thuyền lên Thiên Đàng, sanh vào cõi Trời Tịnh Độ, chưa kể trong khi chờ đợi còn được sức khỏe, tiền bạc, ăn nên làm ra, gia đình thuận thảo, tai qua nạn khỏi, v.v… Có khác nào Jacob đòi được ăn, được mặc, được an ninh trên con đường bôn tẩu, trong khi chờ đợi lên làm tộc trưởng một bộ tộc sẽ bá chủ thiên hạ ? Khi Lương Vũ Đế hỏi Tổ Đạt Ma : cúng giường, cất chùa, đúc chuông, xây tháp, có phúc đức không ? Tổ bảo : không phúc đức khỉ khô gì cả ! Tụng kinh vạn biến, trì giới muôn đời, thiền định vô lượng kiếp, để mặc cả một Niết Bàn tham dục, cũng phi lý và vô ích như thế mà thôi !  

CÔNG TY “JACOB - THIÊN CHÚA” LỚN MẠNH   

            Thế là, với một đồng minh nặng ký, Jacob tiếp tục cuộc hành trình của mình. Cuộc hành trình của Jacob rất khác với các chuyến ra đi của Adam và Abraham. Khi Adam bỏ Eden, cảnh giới Lạc Thú, đi sang cõi Ta Bà này, thì đó chỉ là một sự đổi thay của Ý Thức. Adam rơi vào suy tưởng nhị nguyên, phân biệt, sau khi ăn trái của cây “phân biệt thiện ác”, làm che lấp đi cái Phật Tính của mình, và đi vào biển khổ. Đến lượt Abraham, thì ông ra đi vì nghe được tiếng nói của Thiên Chúa, có lẽ từ nội tâm mình, và đi theo tiếng nói ấy, tìm một miền Đất Hứa. Abraham không cầu xin gì cho mình cả. Ông chỉ vâng lời, tuân theo tiếng nói của Thiên Chúa mà ông nghe được. Thậm chí khi Thiên Chúa bảo đem giết đứa con kế tự mà ông đã phải chờ đợi suốt ba phần tư thế kỷ, ông cũng không một cử chỉ phản đối. Lần duy nhất Abraham cầu xin thương lượng với Chúa là để nài nỉ Chúa tha không tiêu diệt thành Sodome. Chúng ta đã nhấn mạnh đến sự dũng cảm của ông trong dịp này. Isaac là một ngoại lệ : ông không đi đâu cả, chỉ ngồi nhà. Nhưng người đày tớ của Abraham đi thay cho ông khi anh này lặn lội đường xa tìm vợ cho ông. Isaac là một người tuân theo định mệnh. Người đày tớ đem bà nào về thì ông lấy bà đó. Anh đày tớ cũng tuân theo định mệnh : anh ta sẽ chọn người đàn bà đầu tiên múc nước đem đến mời anh ta uống, và mang về cho Isaac lấy làm vợ. Khi lầm lỡ chúc lành cho Jacob, sắc phong Jacob làm tộc trưởng thay vì truyền chức vị ấy cho người con trưởng Esau, Isaac cũng không điều chỉnh lại, coi như định mệnh đã an bài. Isaac làm tôi liên tưởng đến quả vị Tu Đà Hoàn hay Nhập Lưu, của người đã nhập vào dòng nước và thản nhiên buông bỏ theo dòng nước chảy, sau khi đã thắng được bản ngã và lòng nghi ngại (Osho – Kinh Kim Cương). Người như thế không đi đâu cả, nhưng thật ra lại là đi. Ông chỉ buông thả, bình thản và tin tưởng để cho dòng định mệnh chở mình đi. Jacob thì khác. Cuộc hành trình gian khổ của Jacob  là hậu quả của một mưu mô xảo trá. Ông lên đường rồi mới lo lắng xin sỏ thương lượng đủ điều với Thiên Chúa. Ông không xin gì cho người khác, chỉ xin cho ông. Với óc thực tế, ông thương lượng một sự đổi chác, hùn hạp với Thiên Chúa, vì Jacob không quan niệm nổi Thiên Chúa có thể cho mà không cần nhận lại. Thiên Chúa của Jacob là chính Jacob, được phóng chiếu ra ngoài bản ngã của ông.  

            Cuộc hành trình của Jacob đưa ông về quê cũ của Abraham, cũng là quê của Rebecca, mẹ ông. Tại đây, ông tá túc nơi nhà của Laban, cậu ruột ông, anh của Rebecca. Laban  có hai con gái, chị là Lea, em là Rachel. Laban gả cả hai cho Jacob, kỳ vọng nơi chàng rể quý sẽ phụ lực ông cai quản tài sản và bộ tộc ông trong lúc tuổi già. Khổ nỗi, tham vọng của Jacob nằm ở chỗ khác. Ngày kia, Jacob đòi được chia một phần số súc vật của Laban và tìm ra một mánh lới để gia tăng phần của riêng của mình một cách rất mạnh mẽ. Thiên Chúa, như một thành viên của « công ty Jacob », cũng được coi như đã can thiệp một cách đắc lực vào chiến dịch làm giàu này. Hãy nghe  Jacob nói với Rachel và Lea : «Thiên Chúa đã tước đoạt đàn súc vật của cha em để tặng cho anh …» (31 :9). Jacob cũng quyết định bỏ Laban ra đi khi thấy mình đã giàu mạnh, không còn cần lưu lại trên đất của Laban nữa. Ông bèn nói với Rachel và Lea rằng Thiên Chúa đã phán với ông : « Ta là vị Chúa đã hiện ra với ngươi ở Bethel, (…) , bây giờ ngươi hãy đứng dậy, rời bỏ đất nước này và trở về quẽ hương ngươi » (31 :13). Chúa đã phán bảo thì đương nhiên là  Rachel cũng như Lea đều không còn gì để ngần ngại hay chống đối, cũng như hai bà đã dễ dàng chấp nhận việc Jacob sang đoạt tài sản của Laban, cha của hai bà, với lý do, được Jacob nêu ra, là Thiên Chúa đã chủ động việc này. Thiên Chúa của tư dục là một vị Chúa vạn năng !    

ISRAEL XUẤT HIỆN    

            Vấn đề bây giờ là Esau. Trong lúc Jacob cùng với đoàn người và súc vật của mình về gần đến lãnh thổ của Isaac thuở xưa, thì Esau cũng tiến về phía Jacob với một đoàn tùy tùng 400 người. Jacob không dấu diếm nỗi sợ sệt của mình (32 :8). Ông cầu cứu Thiên Chúa : « Xin Ngài hãy thương tình cứu tôi khỏi bàn tay của Esau vì anh ấy làm tôi kinh hãi … » (32 :12). Ông cũng chia đoàn người và súc vật của ông làm hai nhóm riêng biệt, để hễ Esau đánh nhóm này thì còn nhóm kia, như thế « ỷ dốc » chúng ta từng đọc trong Tam Quốc. Thêm vào đó Jacob đưa rất nhiều lễ vật đi trước mình để mua lòng Esau. Một chiều tối nọ, Jacob đến bờ sông Yabboq, một phụ lưu bên bờ phía đông sông Jourdain. Biết Esau ở gần đó, bên bờ bên kia, Jacob cho vợ con sang sông trước, còn ông nán lại bờ bên này ngủ qua đêm. Sáng Thế Ký thuật lại rằng : « một người đàn ông đến lăn lộn với ông trong cát bụi cho đến lúc bình minh ló dạng (…) Người ấy nói : hãy buông ta ra vì bình minh đã ló dạng. Jacob trả lời :  tôi sẽ chỉ buông ông ra nếu ông chúc lành cho tôi. Người ấy hỏi : ngươi tên gì ? Đáp : tên Jacob. Người ấy tiếp : từ nay người ta sẽ không gọi ngươi là Jacob nữa mà là Israel, vì ngươi đã vật lộn với Thiên Chúa và với con người và ngươi đã thắng (chữ Israel có nghĩa là « vật nhau với Chúa »). Jacob hỏi : Thưa Ngài, xin Ngài hãy cho tôi được biết tên của Ngài. Người lạ hỏi lại : vì sao ngươi muốn biết tên ta ? Và liền chúc lành cho Jacob. Jacob gọi nơi ấy là Peniel, có nghiã là "Mặt Chúa", vì, ông nói :"Ta đã đối diện với Chúa mà vẫn sống sót" (32 :23-31). Có thật người khách lạ là Thiên Chúa hay không ? Có thể, nhưng đọc sang đoạn kế tiếp chúng ta không khỏi có chút nghi ngờ. 

            Esau hùng hổ tiến về phía Jacob với 400 tráng đinh và lời nguyền sẽ giết Jacob (27 :41). Nhưng đến khi gặp nhau, trong khi Jacob quỳ lạy bảy lần sát đất, thì Esau lại chạy đến ôm hôn Jacob một cách thắm thiết. Sau khi đem vợ con ra trình diện, Jacob dâng lễ vật biếu Esau. Esau từ chối : « Anh có thừa của cải, em ơi ! tất cả những gì của em là của em ». Jacob nài nỉ anh mình nhận lễ vật, và nói « …em đã thấy mặt anh cũng như thấy mặt Chúa … » (33 :10). Vì sao câu nói quá đáng như vậy ? Phải chăng hai người đã thực sự gặp nhau từ đêm trước, khi Esau một mình sang sông tìm giết Jacob ? Tại sao sau một đêm dài « lăn lộn trong cát bụi », Jacob lại xin một người lạ mặt chúc lành cho mình ? Vào thời điểm ấy Jacob cần sự chúc lành của ai nhất, nếu không phải là của Esau ? Vì sao người lạ mặt lại hấp tấp bỏ đi khi bình minh ló dạng nếu không phải vì sợ bị nhận diện, bởi Jacob, hay bởi người khác ? Câu nói « đánh vật với Chúa và với con người ? » phải hiểu như thế nào ? « Con người » ở đây là ai ? Isaac ? Esau ? Laban ? Phải chăng Jacob đã phịa với gia đình và tùy tùng câu chuyện đánh vật với Chúa, dù biết mình vật nhau với Esau, như ông đã từng mượn tiếng Chúa để hai bà vợ dễ chấp nhận việc mình sang đoạt của cải của thân phụ hai bà, trước khi cuốn gói ra đi ? Và bây giờ, giáp mặt Esau, phải chăng Jacob cảm thấy cần phải mua lòng anh mình bằng cách nhắc lại cái đêm dài lăn lộn ấy, với sáo ngữ « gặp mặt Esau như thấy mặt Thiên Chúa » ?   

            Dù sao, vấn đề Esau coi như giải quyết, con đường trở về nhà cha mình của Jacob rộng mở. « Nhân viên Thiên Chúa » của « công ty Jacob » đã làm việc đắc lực, và có thể được tuyển dụng vĩnh viễn, như đã được giao ước ở 28 :20-22. Jacob lập một bàn thờ và gọi Chúa là « El, Chúa của Israel », gán tên mới của mình vào tên Chúa (33 :20). Liền sau đó, một biến cố xảy ra, với những ý nghĩa đặc biệt.    

LỪA GẠT VÀ THẢM SÁT   

Số là sau khi thoát nạn Esau, Jacob đến đặt doanh trại trước thành Sichem, và mua một mảnh đất của vua thành này là Hamor. Con trai Hamor, cũng tên là Sichem như thành phố cha mình cai trị, bắt cóc Dina, con gái Jacob, và nhất định đòi cưới nàng. Sichem yêu Dina say đắm "bằng tất cả con người mình" (34:3), và biết nói với nàng "từ con tim đến con tim". Hamor đến cầu hôn cho con trai mình, và còn hơn thế nữa, ông đề nghị một liên minh giữa nước ông với bộ lạc của Jacob : "hãy gả con gái của quý vị cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ gả con gái của chúng tôi cho quý vị ; hãy ở lại với chúng tôi, đất nước này sẽ rộng mở cho quý vị lưu lại, làm ăn và trở nên giàu có". Sichem, người con si tình còn hứa tặng "tất cả những gì quý vị đòi hỏi !" (34:8-12). Các con trai của Jacob chấp nhận đề nghị liên minh của Hamor nhưng với điều kiện là toàn thể nam nhân trong thành Sichem phải chịu nghi thức cắt bì. Họ nhấn mạnh rằng sau đó "chúng ta sẽ trở thành một dân tộc duy nhất" (34:16). Hamor nhận lời, và tất cả người nam trong thành đều phải cắt da quy đầu. Khổ nỗi, trong khi họ đang đau đớn, có thể bị sốt, nhiễm trùng ... vì thủ thuật giải phẫu sơ khai của thời ấy, thì Simon và Levi, con của Jacob, xông vào và giết tất cả nam  nhân trong thành, "một cách an toàn", như lời Thánh Kinh nhấn mạnh. Đương nhiên là họ giết Hamor và Sichem, đoat lại em gái mình, và cũng không quên đoạt tất cả súc vật "nhỏ cũng như lớn", "ở trong phố cũng như ngoài đồng quê", sang đoạt luôn "toàn bộ tài sản của dân chúng", và chưa hết, cưỡng đoạt "tất cả trẻ nhỏ, đàn bà, và cướp phá toàn thể đồ vật trong nhà" (34: 25-29). Tóm lại, phải hiểu là thành Sichem không còn gì nữa. Không còn người, vật, của cải, nhà cửa, thậm chí cả trẻ nhỏ ... Tác giả Sáng Thế Ký thuật lại màn cướp phá này với tất cả chi tiết hẳn là có dụng ý vậy. Điều kỳ lạ là Jacob hoàn toàn vắng mặt trong vụ này. Các con ông ký kết một liên minh giữa bộ lạc ông với một dân khác, để làm thành "một dân tộc duy nhất", mà ông có vẻ như không hay biết gì cả ! Khi nội vụ đã xong xuôi, Jacob trách các anh con nóng nảy : "tụi bay gây khó khăn cho tao ..." (34 :30). Lý do chỉ  vì Jacob sợ dân các thành quanh đó sẽ liên kết lại để mần thịt ông, chứ không phải vì màn cướp bóc quá dã man kia  đã phản lại mọi luân lý đạo đức tối thiểu nhất. Thêm vào đó, nghi thức cắt bì là một nghi thức được Chúa đặt ra cho Abraham, để đánh dấu giao ước giữa Thiên Chúa và con người (chúng ta đã bàn về ý nghĩa của nghi thức này trong phần 2 của loạt bài). Các con Jacob lại cả gan dùng nghi thức ấy để dối gạt dân thành Sichem, không khác gì sử dụng Thiên Chúa để lường gạt người khác, và hơn thế nữa, dùng Ngài để cướp bóc, tàn sát những người vô tội, tức một sự xúc phạm vô cùng nặng nề đối với Thiên Chúa. Jacob bất cần đã đành, thế còn Thiên Chúa thì sao ? Thiên Chúa cũng có vẻ bất cần. Ngài chia sẻ sự lo lắng của Jacob, và khuyên ông nên đem bộ lạc của mình chạy đến Bethel. Để cho màn « di tản chiến thuật » được an toàn, Thiên Chúa gieo kinh hoàng trong tất cả dân chúng các thành quanh đó, để họ khỏi động binh truy kích Jacob (35 :5).    

HIỆU NĂNG CỦA THIÊN CHÚA  

Thế là Jacob chạy đến Bethel. Đó chính  là nơi Jacob đã nằm mơ và thương lượng sự hùn hạp với Chúa, trên đường đi trốn Esau. Bây giờ trở lại nơi đây, do một sự trốn chạy khác, kết quả của một sự lường gạt khác … Jacob lập bàn thờ và tế lễ Chúa một cách trọng thể. Thiên Chúa cũng lịch sự hiện ra với Jacob và lập lại, một lần nữa,  lời hứa của Ngài với Abraham : « hãy sanh sôi nảy nở ; một dân tộc rồi một nhóm dân tộc sẽ đến từ ngươi và nhiều vị quân vương sẽ phát xuất từ dòng dõi ngươi ; ta ban cho ngươi và hậu duệ ngươi đất đai mà ta đã ban cho Abraham và Isaac ». Nghĩ cho cùng, nếu Chúa đã hứa cho Abraham và hậu duệ ông này những điều đó, thì cần gì phải hứa đi hứa lại với Jacob ? Jacob là hậu duệ của Abraham kia mà ! Mặt khác, Thiên Chúa đã thực sự giúp được gì cho Jacob ? Từ màn lường gạt Isaac, người cha mù lòa, cho đến khi tá túc nơi Laban, gây dựng sự nghiệp đồ sộ, rồi bỏ Laban ra đi, thậm chí đến lúc gặp lại Esau, khơi dậy được tình cảm của Esau, và có thể đã cầm cự được với Esau trong suốt một đêm vật lộn, tất cả đều do ý chí kiên trì, và nhất là óc thông minh, khéo léo, đầy sáng kiến, của Jacob. Thậm chí lúc Chúa gieo kinh hoàng trong dân chúng các thành lân cận Sichem, để họ không dám truy kích Jacob, thì cũng phải tự hỏi có phải Chúa đã làm điều đó hay là chính sự tàn bạo vô biên của bộ lạc Jacob trong cuộc thảm sát Sichem đã khiến dân chúng quanh vùng tê liệt vì kinh hãi ? Jacob dùng Chúa để gạt người khác, và có thể ông cũng tự gạt chính mình với quan niệm một Thiên Chúa « đứng về phe ông » luôn ủng hộ giúp đỡ ông trong tất cả những việc ông làm, dù cho đó là việc phải hay việc quấy. Tâm lý ấy chẳng qua rất thông thường : Chúa, Phật, được dùng như những phương tiện để ổn định tinh thần, làm an tâm, gây tự tin, và rốt cuộc là làm gia tăng hiệu năng của  hành động, khiến hành động ấy gặt hái nhiều thành quả hơn. Sự thành công của Jacob phải chăng chính là nhờ nơi niềm tin ấy ? Đi thêm một bước nữa, một số người có thể dùng Chúa, Phật, nhiều khi một cách thành thật, để biện minh cho hành vi tàn bạo của mình, nhân danh một Uy Quyền cao hơn mọi phán đoán thông thường về tốt xấu. Đừng quên, Sáng Thế Ký đã khởi đầu bằng câu chuyện con người xen vào việc « phân biệt tốt xấu » của Thiên Chúa, qua việc ăn « trái cấm » (bên cạnh ý  nghĩa liên quan đến tình dục đã được khai triển ở phần 1 của loạt bài). Về phần Jacob, ông dường như không mấy quan tâm đến « tốt – xấu » theo sự hiểu biết thông thường. Có thể nói ông quan niệm « tốt » là « tốt cho ông » và xấu là ngược lại. Chúng ta đã  có dịp phân tích tâm lý đó, của chính … Thiên Chúa. Jacob và Thiên Chúa quả là một cặp hùn hạp lý tưởng !   

            Chuyện Jacob đến đây coi như chấm dứt. Tuy nhiên, người viết xin mời bạn đọc nấn ná thêm một chút với  nhân vật rất gần gũi với chúng ta này, qua ba vấn đề :    

THÂN PHẬN KẺ LƯU VONG   

            Cuộc thảm sát thành Sichem có thể được đặt trong một tiến trình khởi sự từ việc Abraham hai lần nhận Sara, vợ mình, là em gái, một lần ở Ai Cập (12 :10-20), lần khác lúc đến Guerar (20 :1-17), để cho Vua Pharaon rồi vua Amibelek lấy bà làm vợ. Đến đời Isaac, một sự việc tương tự xảy ra : vì một nạn đói, Isaac cũng phải đến ta túc ở Guerar và, tại đây, ông cũng làm y hệt như Abraham, nhận vợ mình là Rebecca là em gái để phòng hờ kẻ quyền quý địa phương có muốn lấy bà, thì khỏi làm hại đến ông. Người lưu vong chúng ta không khỏi nhận ra sự nhẫn nhục của kẻ tha hương. Tuy nhiên, đến thời Isaac thì sự thể có phần khá hơn một chút. Vua Guerar là Amibelek (người đã từng lấy Sara, mẹ Isaac), không để bị lừa, mà nói : « đây chính là vợ ngươi, tại sao ngươi lại bảo là em gái ? », và tuyên án tử hình bất cứ ai  dám xúc phạm đến vợ chồng Isaac (26 :7-11). Đến chuyện Jacob ở Sichem, thì không phải một người vợ bị nhận là em gái phải chịu sự sách nhiễu tình dục của dân địa phương, mà là một cô em gái thực thụ, chưa làm vợ ai cả, bị bắt cóc và xâm phạm. Phản ứng của « dân lưu vong » lần này không có vẻ gì là nhẫn nhục lắm : Sichem bị hủy diệt, tàn sát. Nhưng thử hỏi cuộc thảm sát Sichem có thực sự xảy ra không, hay chỉ có trong trí tưởng tượng của người Do Thái, kết quả của dồn nén, uất hận, trước những nhục nhằn phải cắn răng chịu đựng nơi đất khách ? Chính chúng ta, những lúc phải chịu bất công, áp bức, thậm chí bị cướp bóc, đánh đập, hãm hiếp, trên bước đường lưu vong, bao lần những ý tưởng hung bạo tương tự cũng đã nảy sinh ?   

QUAN NIỆM ĐỘC THẦN  

            Trước khi Jacob trở lại Bethel tế lễ tạ ơn Chúa, ông ra lệnh cho mọi người trong bộ lạc phải giao nạp  tất cả những hình tượng thần linh mà họ có, để ông đem chôn trước thành Sichem (35:4). Trong số người giữ tượng thần  có Rachel, vợ Jacob. Lúc bỏ Laban, cha bà, để theo Jacob trốn đi, Rachel có ăn cắp của Laban một số hình tượng thần linh (31 :19). Điều này có nghĩa là Rachel, Laban, và nhiều người trong bộ lạc Jacob tin vào những thần linh khác với Thiên Chúa, và cho đến thời điểm đó, Jacob, hoặc chia sẻ tín ngưỡng ấy, hoặc chấp nhận thực trạng này. Mặt khác, Jacob, Laban, và cả người đày tớ mà Abraham sai đi tìm vợ cho Isaac, mỗi khi nói đến Thiên Chúa, cũng đều gọi Ngài là « Chúa của Abraham », hay « Chúa của Abraham và Isaac », « Chúa của Israel », chứ không thấy ai nói đến « Thiên Chúa của muôn loài » cả. Ý thức « Thiên Chúa của muôn loài » đã chớm nở trong đầu óc họ hay chưa ? Hay họ chỉ quan niệm Thiên Chúa như một vị Thần trong số nhiều vị Thần khác, nhưng gắn bó với họ nhiều hơn do liên hệ của họ với Abraham, với Isaac ? Chúng ta đã bàn tới vấn đề này trong phần 2 của loạt bài, khi nhắc đến chuyện  Melchisedek, vua Shalem, chúc lành cho Abraham, nhân danh « vị Chúa tạo nên Trời Đất » (14 :19). Mâu thuẫn giữa « Chúa của muôn loài » với « Chúa của một dân tộc, một gia đình hay một cá nhân » là một mâu thuẫn nền tảng của Thánh Kinh. Mâu thuẫn này bắt đầu từ chuyện Abraham, và luôn được cảm nhận thấy trong các đoạn kế tiếp.  Nó cũng được gắn liền với vấn đề sự chọn lựa của Thiên Chúa : chọn Abel thay vì Cain, chọn giòng dõi Abraham thay vì phần còn lại của nhân loại, chọn Isaac thay vì Ismael, chọn Jacob thay vì Esau, và, chúng ta sẽ thấy ở đoạn sau : chọn Joseph thay vì 11 người anh em khác … 

ĐEM PHẬT LẠY PHẬT 

            Khi Jacob trình diện vợ con mình cho Esau, lúc anh em tái ngộ, thì ông có 11 người con, 10 trai, một gái, và bốn bà vợ, Lea, Rachel, và hai người tỳ nữ. Như với Abraham và Isaac, vấn đề hiếm muộn cũng đã được đặt ra, với sự can thiệp của Thiên Chúa. Việc Abraham và Sara hiếm muộn, chúng ta đã nói nhiều. Isaac và Rebecca cũng hiếm muộn, phải cầu Chúa, và sanh được hai trẻ song sanh. Jacob thì hơi khác một chút : ông yêu vợ thứ là Rachel, không yêu vợ cả là Lea, chị của Rachel. Chúa thấy điều đó, nên can thiệp cho Lea sanh liên tiếp bốn cậu con trai : Ruben, Simeon, Levi, Juda. Rachel nổi tam bành đòi Jacob phải lập tức làm cho bà một tí nhau, nếu không thì « bà sẽ chết » (30 :1) ! Sau đó bà đổi ý đem kẻ thị tỳ riêng là Bilha cho Jacob để ông này gieo giống thay vì tiếp tục với Lea. Dan ra đời, rồi Nephtali. Đến lượt Lea, nghĩ mình không thụ thai được nữa, bèn đem thị tỳ riêng là Zilpa hiến cho Jacob, lao động  tốt, làm ra Gad và Asher. Tuy nhiên, Lea còn sanh thêm Issachar và Zabulon, tổng cộng sáu con trai, trước khi sanh cô con gái duy nhất là Dina. Bỗng dưng, Thiên Chúa nhớ đến Rachel, và cho bà thụ thai, hạ sanh Joseph (chữ có nghĩa là “thêm”, kiểu “út thêm” của người Việt mình). Sau này, khi bộ lạc rời Bethel, Rachel lại sanh  Benjamin (“út nữa”?) rồi từ trần (thật ra Benjamin nghĩa là “con của phía hữu”, phía của thuận lợi). Có thể nói, với Jacob, vấn đề hiếm muộn được  đặt ra lai rai với hết bà vợ này rồi bà vợ khác, lâu lâu mới phải nhờ đến sự can thiệp của Chúa, cũng như nhờ đến sự “đóng góp” của các bà thị tỳ. Tức là nói chung chung cũng không xa trường hợp của Abraham (vừa phải nhờ đến Chúa vừa nhờ thị tỳ) nhưng không đến nỗi gay gắt bằng. Điều đáng ghi nhận là ở đây Chúa can thiệp vào sự thụ thai của các bà vợ Jacob để tìm cách san bằng những ghen tuông thương ghét không đồng đều chứ không phải với mục đính cao cả là tạo nên một Dân Chúa như với Abraham và với Isaac. Vai trò của Thiên Chúa bị hạ thấp, như trong toàn bộ câu chuyện Jacob. Thật ra từ chuyện Rebecca, trước đó, Thiên Chúa đã xuống gần với những vấn đề nhỏ nhặt của con người. Rebecca là người đàn bà đầu tiên đã dám hỏi chuyện trực tiếp Thiên Chúa, chỉ vì bà thụ thai hai trẻ song sanh, và cảm thấy khó chịu trong bụng ! Thiên Chúa, đấng tạo thành Vũ Trụ Vạn Vật với hàng tỷ tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỷ tỷ thái dương hệ, tỷ tỷ hành tinh … có phải bận bịu quan tâm tới chuyện  đau bụng, việc thi cử, chuyện bán buôn, những nỗi lo buồn vớ vẩn của của từng con vi trùng tí hon như mỗi người chúng ta hay không ? Nhiều người quả quyết là không, như Spinoza, Einstein … Rồi cũng có những kẻ quan niệm Thiên Chúa cũng là Chúa của mỗi cá nhân, của Abraham, của Isaac, của Nguyễn Văn Soài, Trần Văn Ổi … và tin tưởng ngược lại. Bên ta, Tổ Đạt Ma cho rằng, ngoài Tâm không có Phật, mà cầu xin cúng bái gì thì cũng chỉ ở trong Tâm, thế nên, cầu Phật chỉ là đem Phật lạy Phật, là vô nghĩa (Bồ Đề Đạt Ma Quán Tâm Pháp – Huyết Mạch Luận). Tâm ấy là tất cả, nên Phật là tất cả. Tự giới hạn Tâm vào “cái tôi”, thì là phiền não. Giới hạn Phật, Chúa, vào cái “của tôi” cũng vậy. Tại sao Chúa lại chọn tôi để ban ơn phước, để trở thành Chúa “của tôi” ? Chúng ta trở lại vấn đề sự lựa chọn của Thiên Chúa vừa bàn đến ở trên.    

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA   

            Câu chuyện Joseph mang lại một cái nhìn mới cho vấn nạn về sự lựa chọn của Thiên Chúa. Joseph là con áp út của Jacob, được ông thương yêu hơn các con khác. Lại lựa chọn ! Sự ganh ghét không tránh khỏi … Một hôm Joseph đi đến Sichem tìm các anh mình đang chăn thú ở đấy (Sichem là nơi xảy ra vụ thảm sát gây nên bởi các con Jacob – sự việc các con Jacob đem súc vật trở lại đây ăn cỏ cho thấy câu chuyện thảm sát có lẽ đã không thực sự xảy ra). Đám anh bắt Joseph, lúc ấy 17 tuổi, định giết rồi liệng xuống giếng. Người con cả là Ruben can, bảo chỉ cần liệng xuống giếng thôi được rồi. Lát sau có đoàn lái buôn là hậu duệ của Ismael, đi qua. Juda bàn nên lôi Joseph lên khỏi giếng và bán cho người lái buôn để kiếm chút tiền chia nhau (sau này một môn đệ cũng tên Juda sẽ bán Đức Ky Tô). Cả bọn đồng ý. Thế là Joseph được cứu khỏi giếng khô và phải đi theo người lái buôn thuộc bộ tộc bác ruột của cha mình để sau đó bị bán làm nô lệ cho một vị quan thái giám Ai Cập. Ông này tên Potiphar, là Tổng Lãnh Thị Vệ của Vua Pharaon. Ông “nhìn thấy Thiên Chúa ở cùng Joseph, khiến Joseph thành công tất cả những gì mình thực hiện” (39:3). Ông quyết định giao cho Joseph quản lý tất cả tài sản, trừ “trái cấm” là .. bà vợ ông. Quyết định sáng suốt, vì mặc dù sự giúp đỡ của Thiên Chúa, việc “quản lý” bà này có nhiều khó khăn. Bà thấy Joseph đẹp trai, và đòi ngủ với ông. Ông từ chối. Bà vu oan cho ông là cưỡng hiếp bà. Joseph liền bị bỏ tù. Chúa can thiệp để ông được cảm tình của vị quan chỉ huy nhà tù. Vị quan này giao cho Joseph cai quản tất cả sinh hoạt của tù nhân. Một tình cờ khiến cho hai người thái giám thân cận của vua Pharaon phạm tội, bị hạ ngục và Joseph được chỉ định phục vụ cho hai ông này. Hai ông nằm mộng, đem kể lại cho Joseph nghe, và được Joseph giải mộng, cho biết ba ngày sau đó, một ông sẽ được phục chức trong khi ông kia bị treo cổ. Sự việc xảy ra đúng như vậy. Hai năm sau, đến phiên Pharaon nằm mộng, hai lần liên tiếp. Lần đầu vua thấy bảy con bò béo tốt (chúng ta đã nói nhiều đến tính biểu tượng của số bảy trong văn hoá Ấn Âu và Semite) bước lên từ sông Nil, và, trong khi chúng ăn cỏ trên bờ thì có bảy con bò gầy gò xấu xí cũng từ sông Nil mò lên, đến gần chúng, rồi ăn thịt chúng. Lần sau vua thấy bảy bông lúa tươi tốt bị bảy cây lúa héo úa ăn mất. Vua gọi các tu sĩ, các nhà hiền triết, chiêm tinh, khắp nước để giải mộng cho vua, nhưng không lời giải nào làm vua vừa ý. Thế là vị cận thần đã được Joseph giải mộng mới sực nhớ, và giới thiệu Joseph. Joseph tuyên bố với Pharaon rằng không phải ông giải mộng mà chính Thiên Chúa làm việc ấy qua ông. Rồi giải như sau : Ai Cập sẽ được bảy năm trù phú, rồi bảy năm cực kỳ đói kém. Ông đề nghị Pharaon thâu thật nhiều thuế và tích trữ lương thực trong những năm trù phú, để dùng trong những năm đói kém. Pharaon hài lòng, và tuyên bố : « làm sao tìm được một người hàm chứa nơi mình Thần Khí của Thiên Chúa như người này ? » (41 :38). Vua tiếp : « Vì Thiên Chúa chỉ bảo ngươi mọi việc, nên không có ai có thể thông minh và sáng suốt như ngươi ». Kết quả, Joseph trở thành một loại Thủ Tướng của Pharaon, nhân vật số hai trong guồng máy cai trị của Ai Cập. Chính sách thuế khóa rất sáng suốt của Joseph không những đã cứu Ai Cập khỏi khủng hoảng trầm trọng, mà còn làm cho Pharaon và Ai Cập trở nên vô cùng giàu mạnh. Trong những năm đói kém, những người Ai Cập có bao nhiêu tiền bạc đều phải đem hết ra mua lúa thóc mà Joseph đã dự trữ. Khi họ hết tiền, Joseph đổi lương thực lấy súc vật của họ, rồi rốt cuộc lấy đất đai của họ. Kết quả là Pharaon thu tóm toàn bộ « tư sản » trong nước. Ai Cập mặc nhiên trở thành một loại quốc gia « xã hội chủ nghĩa », với nền kinh tế hoàn toàn được hoạch định bởi … Thiên Chúa (qua Joseph) ! Các lân bang cũng phải đem của cải châu báu sang Ai Cập đổi lấy thức ăn. Jacob cũng thế, ông phải gửi 10 người con sang Ai Câp mua thực phẩm cho bộ lạc của mình.   

ĐOÀN TỤ GIA ĐÌNH    

Các ông anh đã từng bán Joseph vào yết kiến ông em quyền quý. Joseph nhận ra họ, nhưng họ không nhận ra Joseph. Joseph giả vờ làm khó họ chút đỉnh, buộc họ là gián điệp, một cáo buộc cổ điển đối với người nước ngoài. Ông tra vấn về gia đình họ, rồi giữ Simeon làm con tin, bắt họ phải quay trở lại Ai Cập cùng với Benjamin, người em út cùng mẹ với ông. Chín anh em quay về Canaan không những với thóc lúa đầy bao, mà cả với vàng bạc mà họ đã đem theo để mua thực phẩm. Số là Joseph đã cho người lén để lại tiền bạc của các anh mình vào túi sách của họ trước khi họ rời Ai Cập. Trở về Canaan, được một thời gian, ăn hết thực phẩm đã mua được, Jacob và các con lại tính đến chuyện quay trở lại Ai Cập. Sự kiện Simeon bị lưu lại làm con tin có vẻ không làm họ bận tâm ! Vấn đề đơn thuần là nạn đói kéo dài. Một vấn đề khác, rất gay go, là Jacob không chịu để cho đám con mình đem theo Benjamin sang Ai Cập như Joseph đòi hỏi. Kỳ kèo mãi, rồi, với sự can thiệp của Juda, người đã có ý kiến bán Joseph lúc trước, Jacob chấp nhận. Juda tuyên bố sẽ lãnh hoàn toàn trách nhiệm trong việc đem Benjamin trở về (43 :9). Điều này hé lộ cho thấy vai trò lãnh đạo của Juda sau này. Đám anh em đem theo lễ vật tặng Joseph, không quên vàng bạc mà Joseph đã trả lại họ trong chyến đi trước, rồi lên đường cùng với cậu út Benjamin. Gặp lại Joseph, họ được thiết đãi yến tiệc tử tế, được mua lúa thóc, được lén hoàn lại tiền mua như lần trước, và điểm phụ thuộc chẳng thấy ai đòi hỏi : Simeon cũng được trả lại. Tuy nhiên Joseph vẫn tiếp tục đùa dai với mấy anh em của mình : Benjamin bị cáo buộc là đã ăn cắp một cái chén quý bằng bạc. Joseph đòi giữ Benjamin lại làm nô lệ, nhưng Juda bước ra nài nỉ xin tha cho cậu em út và xin được ở lại làm nô lệ thay cho Benjamin. Thế là không những các người anh tội lỗi đã bày tỏ niềm ân hận vì chuyện bán Joseph khi xưa (ở đoạn 42 :21, trong lần sang Ai Cập đầu tiên), mà nay chính người đã đề nghị bán Joseph làm nô lệ lúc trước, lại tự xin được làm nô lệ thế chỗ cho người em được cha mình thương yêu hơn tất cả các anh em còn lại. Sự ganh ghét có vẻ như đã nhường chỗ cho tình cảm dành cho người cha già yếu. Mọi sự như đã quay về với trật tự Đạo Lý. Thế là Joseph đuổi hết người nhà ra ngoài và tự tỏ lộ thân thế mình với các anh em. Ông không phiền trách những người anh đã nhẫn tâm đem bán mình mà coi họ như công cụ của một chương trình do Thiên Chúa đã định trước. Ông khuyên họ đừng ân hận đã bán ông khi xưa (45 :5). Kết quả là Jacob và cả bộ lạc di tản sang Ai Cập, được Pharaon đón tiếp tử tế, ban cho đất tốt, và giao cả súc vật của chính mình cho họ cai quản (47 :5-6).    

TIẾT HẠNH KHẢ PHONG    

Chúng ta có thể có vài nhận xét về câu chuyện này. Thứ nhất là Joseph cũng đã bị « sách nhiễu tình dục » nơi xứ lạ, như Sara, vợ Abraham, như Rebecca, vợ Isaac và như Dina, chị ông, con gái Jacob. Bà vợ  Putiphar, vị quan Ai Cập chủ của Joseph, lột quần áo ông đòi làm tình khiến Joseph phải trần truồng bỏ chạy  ra ngoài ! (39 :12). Có thể nói trong tất cả các nhân vật từng bị cưỡng ép tình dục đã kể trên, Joseph là người duy nhất đã anh dũng bảo vệ cái « tiết hạnh khả phong của mình ». Sara và Rebecca, đều an phận chấp nhận bị gọi là em gái của chồng mình, rồi về làm vợ kẻ quyền quý nơi đất khách để bảo vệ sự an toàn cho chồng. Dina không tỏ dấu hiệu chống đối việc bị Sichem bắt cóc. Bản dịch « Thánh Kinh Jerusalem » còn cho rằng Sichem « nói với con tim của nàng », khiến chúng ta có thể nghĩ đến một mối tình được đáp ứng. Phải chăng Joseph đánh dấu một con người mới, hài hòa nhưng quả quyết, gìn giữ được một nền tảng đạo đức mà cha anh ông nhiều lúc dường như có vẻ quên lãng ? Thêm vào đó, các tác giả Sáng Thế Ký có lẽ đã cố tình nhấn mạnh sự khác biệt này, khi đặt hành động can đảm bảo vệ tiết hạnh của Joseph liền sau một câu chuyện loạn luân xảy ra trong gia đình ông.  

PHÉP LẠ CỦA TÌNH DỤC   

Số là Juda, anh của Joseph có ba con trai. Con trưởng tên là Er, không vừa ý Yahweh (không thấy nói tại sao), và bị Ngài gửi vào nghĩa địa. Juda bảo con thứ là Onan lấy vợ của anh mình để « đem lại hậu duệ cho anh ngươi ». Onan không vừa ý , vì « hậu duệ sẽ không phải là của mình », nên mỗi khi ăn nằm với Tamar, vợ góa của Er, thì Onan phóng tinh xuống đất. Phương pháp hạn chế sinh sản này không được sự đồng ý của Yahweh, và Ngài cũng cho Onan về chầu ông bà (38 :6-10) ! Truyền thống sau này đồng hóa « phương pháp » của Onan với thủ dâm, nên có chữ « onanisme » để chỉ việc này. Sự lộn xộn tình dục tiếp tục với việc Juda gửi Tamar về nhà cha mẹ bà để chờ người em út Shela lớn lên sẽ gả cho bà. Trong thực tế Juda muốn gạt Tamar, đuổi bà đi, để tránh cho con út ông khỏi phải chịu chung số phận với hai người anh. Có lẽ ông sợ sui, coi Tamar như là có số « sát phu », như  người An Nam mình ? Nhiều năm sau, Juda đến vùng cha mẹ Tamar sinh sống để cắt lông cừu. Tamar biết được, giả làm gái điếm ngồi bên đường. Juda không nhận ra con dâu của mình, và đến ngủ với nàng. Tamar thụ thai. Đến khi có người đến mách với Juda là con dâu của ông làm điếm và đã mang bầu, Juda ra lệnh : “vứt nó ra ngoài đường rồi đem nó đi thiêu sống cho xong chuyện !” (38:24). Khi bị vứt ra đường, Tamar mới trưng bằng cớ Juda chính là cha của bào thai trong bụng nàng. Một chuyện lý thú là Tamar mang bầu hai trẻ song sanh, như Rebecca, và khi chào đời, Zerah, một trong hai trẻ, thò tay ra trước, được bà mụ thắt vào cổ tay một sợi chỉ đỏ, để đánh dấu đứa bé ra trước, sẽ được làm anh. Thế nhưng cu cậu này lại rụt tay lại, và rốt cuộc chú nhóc kia, tên là Pèrèç, chui ra đầu tiên. Gần đây, nghe nói trào lưu thắt chỉ đỏ nơi cổ tay trở nên thịnh hành ở Âu Mỹ trong giới minh tinh màn bạc, ca sĩ thời danh, và cả … cầu thủ túc cầu ! Dù sao, câu chuyện không khỏi gợi lại những tranh dành quyền thừa kế giữa Ismael và Isaac, Jacob và Esau, và như có ý chỉ cho chúng ta thấy giòng con nào của Jacob sẽ là gióng nối nghiệp ông tổ Abraham. Thật vậy, sau này, 12 người con của Jacob trở thành 12 bộ lạc của dân Do Thái, và bộ lạc đến từ hậu duệ của Juda sẽ nắm phần ưu thắng. Vua David, và cả Đức Ky Tô, cũng sẽ sanh ra từ dòng tộc này. Chữ “Do Thái”, Juif, hay Jude, cũng đến từ tên Juda, hàm ý mọi người Do Thái đều là hậu duệ của Juda. Trở lại mạch văn Sáng Thế Ký, những chuyện tình dục lăng nhăng vừa kể được các tác giả xếp liền ngay trước chuyện Joseph và bà vợ Putiphar, hẳn có tác dụng rõ rệt là làm nổi bật sự đạo đức đáng kính phục của Joseph. Mặt khác, một lần nữa, chúng lại nhận thấy là một trong những đề tài chính của Sáng Thế Ký không gì khác hơn là … tình dục. Chúng ta vừa gặp tình dục qua hình thức thủ dâm (hay giao hợp gián đoạn ?), bị Chúa kết án tử hình, và mua bán dục tình đồng thời loạn luân giữa cha chồng, con dâu, có vẻ không bị Chúa chống đối. Trước đó chúng ta đã từng duyệt qua tình dục đồng tính luyến ái trong chuyện Sodome, tình dục loạn luân giữa cha và con gái trong chuyện Loth, tình dục loạn luân khác giữa con trai và mẹ ghẻ (Ruben và Bilha – Ruben bị mất quyền thừa kế sau đó) và tình dục đơn giản chất phác bình dị giữa người nam và người nữ, trong chuyện Adam và Eva, đưa đến hình phạt Thiên Chúa giáng trên đầu nhân loại cho đến muôn đời … Tình dục cũng là trung tâm của giao ước giữa con người Abraham và Thiên Chúa, được cụ thể hoá bởi nghi thức cắt bì : con người dâng một phần dương vật của mình cho Chúa để đổi lấy khả năng “sinh sôi nảy nở đầy mặt đất”, như đặt tình dục của mình dưới quyền uy của Chúa, thay vì dùng nó để tranh quyền "sáng tạo" với Chúa. Thật ra, Thiên Chúa quan tâm đến tình dục hay chính con người, qua Sáng Thế Ký, biểu lộ sự ám ảnh của mình đối với tình dục, cùng với những thắc mắc trăn trở về vấn đề này : làm sao nam và nữ, đực và cái, qua một liên hệ xác thịt khó hiểu, lại tạo tác ra được một cá thể mới, không khác nào hành vi Sáng Tạo của Thiên Chúa ? Phép lạ nào đã xảy ra ? Phép lạ ấy từ đâu đến ? Từ ai ra ? Nếu không phải từ chính Thiên Chúa ?

CON NGƯỜI TÔN GIÁO VÀ CON NGƯỜI TÂM LINH   

Một nhận xét quan trọng là Joseph, mặc dù được Thiên Chúa ban cho những thành công hiển hách, nhưng không khi nào thấy ông cầu nguyện xin xỏ chi cả. Pharaon đã nhìn ra « Thần Khí » Thiên Chúa ở trong Joseph, và mỗi khi Joseph làm điều gì, như khi đoán mộng cho các quan cận thần của Pharaon hay cho chính Pharaon, thì  Joseph đều cho rằng Chúa hành động trong ông. Nói kiểu Á Đông nhà ta là Joseph đã nhìn ra Phật Tánh, hay cái Đạo của Trời Đất, bên trong bản ngã giả hợp của mình. Mọi hành vi đều là « làm mà không làm », vì không có cái tôi thì lấy ai để làm (Đạo Đức Kinh : « vô vi nhi vô bất vi ») ? Hành động như vậy, khác nào trăng chìm đáy nước không làm gợn sóng mặt hồ, bóng tùng qua lại trên sân không làm giao động bụi sân … Lại nữa, vì thuận Đạo, nên mọi việc xuôi thuận tự nhiên, dù là việc xấu hay việc tốt. Việc bị các ông anh đem bán mình làm nô lệ, Joseph không coi là xấu, và không hề đặt vấn đề trừng phạt. Việc ông bị bỏ tù oan cũng vậy. Có thể nghĩ cái Tâm mưu mẹo tính toán đầy bản ngã được thấy trong câu chuyện trước với nhân vật Jacob, nay, với Joseph, đã quay trở về trạng thái an nhiên tự tại vào lúc trước khi con người qua Adam và Eva, ăn trái cây phân biệt xấu tốt. Thái độ của Joseph đối nghịch lại với thái độ cầu xin nài nỉ Thiên Chúa trong các đoạn trước. Thái độ không cần cầu nguyện này làm liên tưởng tới lời sơ tổ Trúc Lâm : « đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền » : khi đã buông bỏ được tâm chấp ngã thì thiền định còn không cần nữa chứ đừng nói đến cúng bái cầu xin. Thiên Chúa của Joseph cũng khác với Thiên Chúa của các đoạn trước. Thiên Chúa của Joseph được nhận biết bởi Pharaon, bởi vị Tổng Lãnh Thị Vệ Ai Cập, Ngài không đòi hỏi tế lễ, cầu xin, không xuất hiện để ra lệnh này lệnh nọ, không ganh tị với những thành công của con người, không thiên vị, sẵn sàng ban phúc lành cho mọi người, kể cả người Ai Cập … Chúng ta gần với Chúa Elohim, hơn là với Yahweh (sự phân biệt giữa Elohim và Yahweh đã được phân tích ở phần 1 của loạt bài – có thể nhắc lại : Elohim không dựng nên Adam và Eva, mà dựng nên con người nói chung, nam và nữ). Vả lại Joseph không khi nào nói đến Yahweh, mà chỉ nói đến Elohim. Một chi tiết đáng chú ý : khi Jacob đã nhất quyết bỏ Canaan để di dân sang Ai Cập sau khi biết Joseph, con mình, làm đến Thủ Tướng tại đây, thì vị Chúa của Jacob mới theo đuôi quyết định của ông mà lò tò xuất hiện, ra lệnh cho ông … bỏ Canaan đi Ai Cập (46:2-4) ! Thiên Chúa của Jacob chẳng qua chỉ là cái tâm lo lắng sợ sệt của ông, cần một sự trấn an. Jacob phải tạo ra một quyền uy to lớn, một vị thần, vị chúa, vị tiên, vị phật nào đó, để ông có cảm giác được hậu thuẫn bởi một thế lực mạnh hơn những bất trắc hiểm nguy mà ông lo sợ. Đó chính là thấy gà tưởng phượng, thấy lá thu tưởng vàng ròng, như thơ của sư Sở Thạch, đời Thanh. Một nhận xét khác : khi Jacob được chúc lành như người thừa kế, thì sự chúc lành ấy do Isaac, cha của ông, thực hiện. Đến khi Jacob chúc lành cho những người thừa kế mình thì cũng chính Jacob làm việc này. Đối lại, trước đó, Thiên Chúa tự chúc lành cho Abraham, và khi Abraham từ trần, cũng chính Chúa tự Ngài chúc lành cho các con ông, Isaac và Ismael, tộc trưởng của các dân tộc Do Thái và Ả Rập (25:11). Phải chăng con người, đến một lúc nào đó, đã tự mình làm công việc đáng lẽ dành cho Thiên Chúa và Thiên Chúa chỉ theo đuôi quyết định của con người ? Thêm vào đó, vị Chúa của Jacob khi xuất hiện phải tự giới thiệu : « ta là El, Chúa của cha ngươi » (46 :3), như để nhắc nhở con người lo lắng Jacob rằng : ta phù hộ ngươi vì ngươi với ta liên hệ mật thiết, ta đã chọn ngươi như kẻ được ta ban phúc lành, ta là chúa của riêng gia đình ngươi, chính gia đình ngươi mới được ta giúp đỡ, chứ không phải mấy đám ba cà chớn khác ! Ngược hẳn lại với những gì ta vừa phân tích về Đấng Thiên Chúa của Joseph. Ôi ! « Chúa của tao, chúa của mày » như được quan niệm bởi Jacob cũng như bao kẻ khác, cho đến nay vẫn là nguồn gốc của tang thương trong nhân loại vậy. Có thể nói Joseph là một « con người tâm linh », trong khi Jacob là « con người tôn giáo ». Sự kiện Joseph xuất hiện sau Jacob trong Sáng Thế Ký có một ý nghĩa giáo huấn rất rõ rệt.    

HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA    

Phân biệt : « Chúa tao, chúa mày » chính là đặt vấn đề sự chọn lựa của Thiên Chúa. Trong các chuyện trước của Sáng Thế Ký, sự chọn lựa của Thiên Chúa không được gắn liền với một lý do rõ rệt, như khi Ngài chọn Abel và làm ngơ trước lễ vật của Cain, chọn Abraham thay vì người khác, chọn Jacob thay vì Esau, hoặc giả chỉ có lý do rất hình thức như khi chọn Isaac thay vì người con trưởng Ismael, chỉ vì Ismael có mẹ là người Ai Cập và là vợ thứ (Joseph cũng là con vợ thứ !). Cũng có thể nhìn sự chọn lựa của Thiên Chúa qua sự chọn lựa của con người : Rebecca thương Jacob hơn Esau, Isaac chọn Jacob, dù bị Jacob lừa gạt, Jacob yêu Rachel hơn Lea và thương các con của Rachel hơn con các giòng khác, rồi khi chúc lành cho các con của Joseph, Jacob cũng đặt con thứ Ephraim lên trên con trưởng Manassé (48 :20) mà không có nguyên do rõ rệt. Vấn đề chọn lựa chỉ thoát khỏi vòng u tối để trở nên hoàn toàn sáng lạn với việc Thiên Chúa chiếu cố và bảo trợ cho Joseph. Vì sao Thiên Chúa lại chọn Joseph ? Thử hỏi ai có thể ngờ vực hay dị nghị trước sự chọn lựa này ? Ai xứng đáng hơn Joseph ? Nếu trước đó chúng ta đã có nhiều thắc mắc về  các sự chọn lựa trước của Thiên Chúa, thì, với Joseph, chúng ta hoàn toàn đồng ý với Ngài. Chọn lựa của Thiên Chúa trong trường hợp Joseph cũng là chọn lựa của chúng ta, và ít ra là một lần trong việc học hỏi Thánh Kinh, chúng ta đã đạt được sự hợp nhất với Chúa ! Mặt khác qua việc chọn  lựa Joseph, Thiên Chúa cũng hé lộ cho thấy thế nào là con người lý tưởng, con người đúng như hình ảnh của Ngài. Thiên Chúa chọn Joseph, vì Joseph là hình ảnh của Ngài. Hoặc giả đó là hình ảnh mà Ngài muốn có ?  

NGƯỜI KY TÔ GIÁO VÔ THẦN ?  

Thế còn những hình ảnh khác của Thiên Chúa mà Sáng Thế Ký đã hé lộ cho chúng ta thấy ? Có thể nói những hình ảnh này được phản chiếu từ những bản ngã khác nhau của từng nhân vật được nói tới. Khi ý thức tính nhị nguyên của sự vật, qua việc ăn trái cây phân biệt thiện ác, thì Adam, Eva và những con người trong giai đoạn kế tiếp nhìn Thiên Chúa qua lăng kính đó, tức một Thiên Chúa có thiện có ác, khi thương khi ghét, khi đồng lõa khi ganh tỵ, khi cao thượng khi nhỏ mọn, khi sáng tạo, lúc hủy diệt, khi thì tràn đầy yêu thương, lúc khác lại vô cùng tàn bạo v.v…  Đến Abraham, người du mục, ông kỳ vọng vào một Thiên Chúa duy nhất, mà ông có thể đem được từ chỗ này đến chỗ khác trong cuộc du hành rày đây mai đó. Thật vậy, ở mỗi bước dừng chân, người du mục đều gặp phải những thần linh khác nhau. Đối với những thần linh ấy, dù cho có tận tình cúng tế, họ luôn vẫn là một thứ « con ghẻ », một loại tín đồ vòng ngoài, cùng với thân phận thường dân hạng hai của kẻ tha phương cầu thực. Họ cần một vị Thần của riêng họ, mang theo được trong các túi sách của họ, từ nơi này đến nơi khác. Nhiều người, như Derrida, mới qua đời, cho rằng trong khi người dân định cư phải xây dựng  đền đài cho việc thờ kính, thì việc ghi lại những dấu tích của Thiên Chúa trên những « sách cuộn » (rouleaux – Thánh Kinh được ghi lại dưới dạng này), cho phép người du mục Do Thái có thể “bỏ túi” vị Chúa của họ để mang theo trong khi di chuyển. Có thể chính các “rouleaux” đã góp phần xây dựng nên ý tưởng độc thần nơi người Do Thái ? Dù sao, khi đã có một vị Thần riêng của mình, vấn đề được đặt ra tiếp theo đó là tương quan giữa vị Thần ấy với các thần khác, không những thần của các dân tộc định cư ở những nơi mà người du mục đến tá túc, mà cả thần của các bộ lạc du mục khác. Tổng quan, có thể hình dung ba cách giải quyết vấn đề sống chung giữa các vị Thần : cách đơn giản nhất là tưởng tượng các vị thần, của dân mình cũng như của các dân khác, cùng « sinh hoạt » trong một cảnh giới thần thánh nào đó, như con người sinh hoạt với nhau trong cõi ta bà này. Cách thứ hai, cách của vài  đế quốc “văn minh”, là đồng hóa thần linh và sự thờ tự của các sắc dân khác với thần linh và sự thờ tự của mình. Người La Mã đã làm như vậy. Một thí dụ : khi họ « gặp » thần Odin của dân Đức German (chữ có nghĩa là « con người chiến tranh » : Guerre + Man) thì họ bảo Odin chính là Mercure, một vị thần La Mã. Chúng ta thừa hưởng sự bắt quàng làm họ này trên cuốn lịch hiện dùng : ngày thứ tư, vừa được gọi là mercredi, ngày của Mercure, vừa được gọi là Wednesday, ngày của Odin. Ky Tô Giáo kế thừa đế quốc La Mã cũng có khuynh hướng tương tự, như việc dùng ngày lễ của tôn giáo khác đổi thành lễ của mình như lễ Giáng Sinh, vốn là lễ thần mặt trời (sol invictis). Trên lịch chúng ta cũng có Sunday, ngày mặt trời, đối lại với dimanche, ngày Chúa Nhật. Gần đây, với quan niệm « inculturation » của Công Đồng Vatican 2, Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng cho rằng có các giá trị Ky Tô Giáo ở  trong các tôn giáo khác … Người Do Thái chọn cách giải quyết thứ ba : không đồng hóa, mà xóa sạch các thần linh khác, coi họ là kết quả của mê tín, là những cục đất xét, những tảng đồng, sắt, mạ vàng mạ bạc, hoàn toàn vô nghĩa trước vị Chúa của mình. Thật ra niềm tin vào một vị Chúa duy nhất có lẽ đã được hình thành từ từ, với những giai đoạn chuyển tiếp. Thiên Chúa duy nhất lúc đầu xuất hiện như sự kết hợp, gia giảm tùy lúc, của nhiều vị thần địa phương (xem phần 1 của loạt bài) trước khi có được những tính chất đặc thù cố định  của mình. Thế rồi, một khi đã quan niệm được một Chúa duy nhất, còn phải quan niệm chỗ đứng của vị Chúa ấy trong thế giới. Eliade cho rằng trước khi có Thiên Chúa duy nhất, mọi sự vật trong thế giới đều mang tính linh thiêng. Từng con sông, từng ngọn núi đều có vị thần của nó, sấm xét, gió bão, mùa màng, cũng vậy, thậm chí cây đa đầu làng của người Việt chúng ta cũng là chỗ trú của thần linh. Thiên Chúa duy nhất đuổi hết các vị thần đầy dẫy trong thiên nhiên đi chỗ khác chơi, và thế giới trở thành thuần túy vật chất. Cần nhấn mạnh là chính vị Chúa duy nhất ấy, vì tính tuyệt đối siệu việt của Ngài, cũng bắt buộc phải đứng ngoài thế giới, ngoài con người. Đóng góp quan trọng này của người Do Thái vào sự suy nghĩ của nhân loại là một trong những yếu tố mở đường cho tư tưởng duy lý, rồi duy vật sau này. Thật vậy, khi thế giới không còn được điều khiển bởi những thế lực thiêng liêng không nắm bắt nổi, thì phải nghĩ đến cái « lý » vận hành nó. Và việc nhận ra thế giới không còn thần linh trong đó nữa, đưa đến quan điểm chỉ còn .. vật chất ! Quan niệm một Thiên Chúa duy nhất, tuyệt đối siệu việt (Dieu transcendant), và ở ngoài thế giới khiến nhiều nhà Thần Học Do Thái và Hồi Giáo coi Ky Tô Giáo không khác một tà giáo đa thần (ba ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chưa kể vai trò của Đức Mẹ), và  Ky Tô hữu là những kẻ vô thần (Yechayahou Leibovitz), vì họ tin vào một vị Chúa « nhập thể », tiềm tàng trong con người (Dieu immanent), tức một vị Thần tưởng tượng, không có thật …   

TIẾN TRÌNH BIỆN CHỨNG   

Vấn đề là trong sự suy nghĩ này có một mâu thuẫn : đống thời người ta quét sạch những dị đoan về các Thần Linh tạp lục trong trời đất và dựng nên một vị Chúa siêu việt đứng ngoài (hay trên) tất cả, mặt khác, ngay từ khởi thủy của sự tìm kiếm, người ta đã ước vọng một vị Chúa của riêng mình : Chúa của Abraham, của Isaac ... Một vị Chúa siêu việt có thể nào lại là Chúa của những sinh vật li ti vô nghĩa, những Abraham, Isaac ... phải bận bịu chăm lo từ chuyện sức khoẻ đến chuyện làm ăn, con cái, chưa kể đến những màn vợ lớn vợ nhỏ v.v... của các sinh vật bé mọn này ? Có thể nói là : qua Sáng Thế Ký, người du mục Do Thái thuở ban sơ phủ định các vị Chúa “của riêng” các dân tộc mà họ có dịp tiếp xúc để cho ra một Thiên Chúa siêu việt, ở trên (ngoài) mọi sự. Nhưng họ cũng lại cho là vị Chúa ấy là Chúa của riêng họ, tức là “phủ định của phủ định”, quay về mệnh đề đầu tiên (Chúa của riêng), dưới một dạng thái khác, dạng thái một Thiên Chúa có “giao ước” với Abraham (Chúa của Abraham) để thực hiện một "chương trình", một “ kế hoạch ” đặc biệt cần được giải thích, đồng thời vẫn giữ tính chất siêu việt.   

Chuyện Joseph đem đến một ánh sáng mới. Như đã nói, Joseph không cầu nguyện, không cúng bái, không xin xỏ. Hành vi của Joseph được điều khiển bởi Thần Khí Chúa ở trong ông. Thật ra, ngay cả Abraham lúc cuối cuộc đời mình cũng cư xử như thể Thiên Chúa làm một với ông (xem phần hai của loạt bài), và chúng ta cũng nhớ lại giai đoạn trước khi ăn trái cây phân biệt thiện ác, Adam từng sống hòa hợp với ý chúa, trong cảnh giới « Lạc Thú » Eden (xem phần 1). Tuy nhiên, với Joseph, sự kiện Thiên Chúa tiềm tàng trong con người và trong sự vật được cảm nhận rõ ràng hơn hết. Qua Thiên Chúa ở trong ông, Joseph biết được những gì sẽ xảy ra trong thiên nhiên, biết được cái “Lý” của sự vật. Đây cũng chính là sự phủ định của khái niệm một Thiên Chúa riêng biệt như vừa nói, tức một Thiên Chúa của riêng con cháu Abraham, một Thiên Chúa “cá nhân”, có nhân cách. Chúng ta lại một lần nữa quay trở về mệnh đề “Thiên Chúa của chung”, nhưng lần này lại dưới một dạng thức mới. Thiên Chúa lần này được quan niệm như một thực thể tiềm tàng trong bản tâm của con người, nơi bản thể của sự vật, một Thiên Chúa nguồn của sự hiện hữu, và cũng chính Hiện Hữu (“Ta là Hiện Hữu” – Exode 3:14). Nói theo kiểu Á Đông, đó chính là Tánh của Vạn Pháp. Quan điểm này vượt qua được mâu thuẫn đối nghịch giữa “Chúa của riêng” với “Chúa của chung”, hay mâu thuẫn “Chúa siêu việt” (transcendant) đối lại với “Chúa tiềm tàng” (immanent). Tuy nhiên Thánh Kinh, tức Lịch Sử của Dân Chúa, cũng như tiến trình biện chứng về bản chất của Ngài, không dừng lại ở đây, ở kết cuộc của Sáng Thế Ký. Những điều kiện thực tế trong các đoạn kế tiếp sẽ khiến cho quan niệm về Thiên Chúa sẽ phải qua lại nhiều lần nữa giữa hai mệnh đề mâu thuẫn đã nêu.   

TÁNH CỦA VẠN PHÁP   

Sáng Thế Ký kết thúc khi Jacob đem toàn thể bộ tộc của mình đến sinh sống tại Ai Cập. Như đã được Chúa phán dạy, Dân Chúa sinh sôi nảy nở đầy mặt đất, nhưng đây lại là mặt đất … Ai Cập ! Dân Ai Cập đương nhiên là « hơi » khó chịu. Mâu thuẫn nảy sinh. Thật ra không phải chỉ có mâu thuẫn giữa hai dân tộc, mà còn mâu thuẫn giữa hai quan niệm về Thiên Chúa. Phải chăng người Ai Cập, với tư cách là con người, cũng được thừa hưởng việc Chúa truyền dạy : “hãy sinh sôi nảy nở đầy mặt đất” như Ngài đã từng tuyên phán với Adam, rồi với Noah ? Tuy nhiên ở đây, việc sinh sôi nảy nở “đầy mặt đất” lại chỉ được áp dụng với con cháu  Israel, mà không được áp dụng cho người Ai Cập, mặc dù nó xảy ra trên đất Ai Cập (Exode 1:7). Chúa lại quay về vai trò “Chúa của riêng” một bộ tộc. Với điều kiện mới : người Ai Cập và vị Pharaon “hữu khuynh” của họ (Pharaon “tả phái” thời Joseph đã về hưu trí trong … kim tự tháp) chủ trương một chính sách kỳ thị, đàn áp và bóc lột Dân Chúa. Thế là Thiên Chúa trong tư thế “Chúa của Dân Chúa” lần này trở thành một lãnh tụ chính trị đối lập, đấu tranh cho quyền lợi của dân Ngài. Và khi mâu thuẫn lên đến “tình trạng quá độ”, thì Ngài khởi động cách mạng võ trang, tiêu diệt một phần dân Ai Cập. Rồi Ngài lãnh đạo Dân Ngài đi về “đất hứa”. Kẹt một cái là có những dân tộc khác sinh sống trên đất hứa đã tự ngàn xưa. Thiên Chúa liền mang gươm mặc giáp, trở thành vị Chiến Tướng (Joshua 5:14) chinh phục đất hứa cho dân Ngài, đồng thời không ngần ngại tiêu diệt những dân tộc sinh sống không đúng chỗ : “ngươi sẽ tiêu diệt toàn thể các dân tộc mà Yahweh, Chúa ngươi, sẽ giao vào tay ngươi; sẽ không được có chút thương hại nào trong mắt ngươi” (Deut 7:16). Tức là, trong suốt Thánh Kinh, tùy theo những điều kiện thực tế, mà Thiên Chúa trở thành người hùn vốn (chuyện Jacob), người chồng, người cha, nhà Vua, vị chiến tướng, quan tòa, nhà giáo dục, người y sĩ, nhà hiền triết v.v… đồng thới với khía cạnh đối nghịch trong bản chất của Ngài, tức khía cạnh “Thiên Chúa của muôn loài”. Hai mặt mâu thuẫn này chớp tắt liên tục trong tiến trình Thánh Kinh, để lâu lâu, khi người ta vượt được lên trên vòng quay vô tận của suy luận nhị nguyên, thì khi ấy, cái Tánh của vạn hữu được tỏ lộ …   

TÓM LẠI  

Sáng Thế Ký là gì ? Là tiến trình Thiên Chúa tạo thiên lập địa, tạo thành con người nói chung, rồi con người của riêng Chúa ? Hay là tiến trình con người tạo nên Thiên Chúa, khởi đầu từ Thiên Chúa của riêng mình cho đến Thiên Chúa như Thực Tánh của Hiện Hữu ? Và nếu Sáng Thế Ký là một vở kịch trong đó diễn viên chính là Thiên Chúa, thì phải quan niệm sân khấu của vở kịch ấy là gì ? Là thế giới, vũ trụ, sa mạc Trung Đông, hay là chính cái Tâm của chúng ta, đồng thời cũng là Tâm của Thiên Chúa ?  

Trong cái Tâm thuần phác, vô phân biệt, một Niệm khởi lên, và Vạn Pháp hình thành, nghiệp quả triền miên, khổ đau không dứt, phiền não chẳng lìa ... Đó chính là Sáng Thế Ký.  

Kỳ dư chỉ là tiểu tiết ! 

           Nguyễn Hoài Vân 

Ngày 7 tháng 11 năm 2004

Votre nom:  
Sujet:  
Email:  
Texte du message:  

° Doll Face - un court metrage
° Pourquoi le capitalisme est un train fou qui ne sait pas s'arrêter ?
° Deux videos de catastrophes
° Stage d’été de Dominique Valera à Ste Maxime - 2010
° Nanbu sensei - Tsukada sensei : démonstration 1971
° L’armada italienne des fausses blouses blanches
° Krav Maga
° deux courts métrages, deux modèles du Créateur
° Alice Au Pays Des Merveilles - Le Film de Tim Burton
° Les Dieux de l’Inde - cette semaine : Vishnu, le Dieu incarné, protecteur et sauveur
° La grippe "du cochon" vue de Genève
° Hommage au Docteur Yvon Henri Lesage
° Idée de Justice - A propos de John Rawls
° Talents à découvrir
° Quelques court-métrages primés
° Une histoire de prénom - de Jacques Attali
° Kata Sanseiru - Ecole Shito Ryu
° De l'Identité Nationale à la République Mondiale
° Kleine Romanze - Petite Romance
° Réveillon à l'Anglaise
° Le temps, la vie et la mort
° Le déterminisme dans l'éducation
° Deux videos sympas
° Claude Lévy Strauss par Régis Debray
° Bodhi Dharma et les Arts Martiaux - Une énigme
Copyright by nguyenhoaivan.com - All right reserved.
Email: nghoaivan@wanadoo.fr